Xử lý nấm xanh để trừ rầy nâu
hại lúa là yêu cầu cấp bách hiện nay và đã trở thành mối quan tâm hàng
đầu của nhiều nông dân. Đây là biện pháp vừa mang lại hiệu quả kinh tế,
vừa góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường và từng bước tiến tới sản xuất
lúa theo hướng bền vững.
Xu thế của thế giới hiện nay là tạo ra
sản phẩm nông nghiệp sạch, nhất là các loài rau trái. Vì vậy, song song
với các biện pháp quản lý dinh dưỡng tổng hợp (INM), các biện pháp
phòng trừ dịch hại tổng hợp, công nghệ sau thu hoạch… thì các nhà khoa
học luôn nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp phòng trừ sinh học để dần
dần thay thế cho thuốc hóa học, nhằm giảm thiểu tối đa lượng thuốc hóa
học dùng trong nông nghiệp.
Sau gần 8 năm nghiên cứu, Viện Lúa
đồng bằng sông Cửu Long đã cho ra đời chế phẩm sinh học nấm xanh, với
tên thương mại là Metarhizium anisopliae (sản xuất từ chủng nấm xanh M.a
(OM2 - B) để quản lý các loài sâu hại lúa. Đây được xem là tiến bộ kỹ
thuật và ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp những năm gần đây.
Các kết quả thí nghiệm trong nhiều vụ ở nhà lưới, ngoài đồng và thực
nghiệm trên diện rộng cho thấy, chủng nấm xanh, M.a (OM2 – B) có hiệu
lực rất cao đối với các loài rầy, bọ xít hại lúa và có hiệu lực tương
đối khá đối với sâu cuốn lá nhỏ hại lúa.
Sau khi phun bảy ngày, hiệu lực diệt
trừ các loài rầy hại lúa đạt từ 73,5 tới 91,5% và hiệu lực trừ bọ xít
hại lúa là 73-88% (tùy theo điều kiện nhiệt, ẩm độ của từng vụ, từng
vùng và trên từng cây trồng khác nhau).
Tiến sĩ Nguyễn Thị Lộc, Trưởng Bộ môn
Phòng trừ sinh học, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long cho biết, sau khi
phun thuốc sinh học xong người đi phun thuốc vẫn khỏe mạnh bình thuờng.
Trong khi những nông dân phun thuốc trừ sâu thì cảm thấy rất mệt mỏi sau
mỗi lần đi phun thuốc về. Có thể nói chế phẩm vi nấm Metarhizium
anisopliae có hiệu quả cao đối với rầy nâu, bọ xít hại lúa. Đặc biệt,
không gây ảnh hưởng tới thiên địch của sâu hại, hệ sinh thái, con người
và môi trường. Vì vậy, chế phẩm vi nấm này rất phù hợp với các mô hình
lúa hữu cơ, mô hình lúa- cá và mô hình lúa- tôm.
Theo đó, từ vụ hè thu năm 2010, An
Giang đã tiếp cận mô hình này và chuyển giao quy trình nhân nuôi nấm
xanh Metarhizium anisopliae tại nông hộ để quản lý rầy nâu, bệnh vàng
lùn - lùn xoắn lá lúa trong toàn tỉnh, với tổng kinh phí thực hiện trên
500 triệu đồng. Mô hình được triển khai tại 11 huyện, thị xã, thành phố;
có 330 hộ nông dân tham gia ứng dụng trên tổng diện tích 220 héc-ta.
Tại mỗi huyện xây dựng mô hình “Ứng dụng nấm xanh để phòng trừ rầy nâu
hại lúa”, có 30 học viên nông dân tham gia lớp “nhân nuôi nấm xanh” được
cung cấp sản phẩm nấm xanh (do lớp học đã nuôi cấy) 2-3 bọc (xử lý
2.000 m2/bọc)/học viên, sẽ xử lý trên đồng ruộng của mình.
Học viên tự theo dõi về mật độ rầy nâu
bị nấm xanh ký sinh và rầy nâu không bị nấm xanh ký sinh, các loài
thiên địch của ruộng lúa như: nhện, bọ xít mù xanh, bọ xít nước, bọ rùa,
kiến ba khoang… trên ruộng từ khi xử lý nấm xanh đến cuối vụ. Bên cạnh
đó cũng theo dõi ruộng đối chứng về mật độ rầy nâu và thiên địch (không
xử lý nấm xanh) để tự đánh giá, so sánh.
Ông Cao Vĩnh Thông, Trưởng phòng Kỹ
thuật, Chi cục Bảo vệ thực vật An Giang nói: Năm 2011, ở tất cả các lớp
học về “1 phải, 5 giảm” trong toàn tỉnh đều đưa công nghệ nhân nuôi nấm
xanh vào ứng dụng và nông dân rất thích. Nhiều nông dân đã từng tham gia
các lớp tập huấn của năm 2010, thì năm nay vẫn tiếp tục thực hiện; thậm
chí có nhiều sáng tạo giúp tiết kiệm chi phí và thời gian nhân nuôi nấm
xanh.
Điển hình như việc thay thế tủ cấy
bằng ống kim tiêm giúp đơn giản hóa trong giai đoạn nhân sinh khối nấm
trên môi trường thứ cấp, vừa đỡ tốn chi phí mua tủ cấy mà vẫn đảm bảo
khâu vô trùng và đặc biệt là tỷ lệ thành công cao hơn. Tại cánh đồng mẫu
xã Tân Tuyến (Tri Tôn), nông dân đã thực hiện phương pháp này và đạt tỷ
lệ nhân nuôi nấm xanh 100%. Hay tại thị xã Châu Đốc cải tiến bằng cách
sử dụng nồi áp suất thay cho lò nấu bằng than, tiện lợi, hiệu quả và
giúp rút ngắn thời gian hơn rất nhiều trong khâu hấp tiệt trùng…